Thần chú ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT -Avalokiteshvara

0
67
Quán Thế Âm Bồ-tát
Quán Thế Âm Bồ-tát

Đức Quan Âm Tứ Thủ được mô tả an tọa trên tòa sen trắng và ngự trên một mặt trăng và mặt trời, thân sắc trắng, một mặt và bốn tay, hai tay chắp lại trì giữ ngọc Mani như ý, tay phải thứ hai cầm tràng pha lê, trong khi tay trái thứ hai cầm hoa sen. Ngài an tọa trong tư thế Kim cương, trang sức gồm các thiên y, lụa là và trang hoàng quý báu nêu biểu cho tất cả phẩm hạnh giác ngộ của Ngài.

Chúng ta quán tưởng sắc thân của Đức Quan Âm thanh tịnh thuần khiết như ngàn ánh trăng thu tỏa rạng muôn nơi. Nếu đã cảm nhận ánh trăng mát mẻ như thế nào thì đây là ngàn ánh trăng hợp lại, bởi đây là ánh trăng của tình yêu thương, lòng từ bi chữa lành căn bệnh khổ đau, phiền não cho chúng sinh. Vì vậy thân của Ngài tỏa ra những ánh sáng ngũ sắc. Nhưng hầu hết là ánh sáng trắng.

ཨོཾ་མ་ཎི་པ་དྨེ་ཧཱུྃ།

Thần chú ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT -Avalokiteshvara

।ॐ मणिपद्मे हूँ ॥

Oṁ Mani Padme Hūṁ

Quán Thế Âm (Tiếng Phạn: अवलोकितेश्वर nghĩa là “Đấng quán chiếu âm thanh của thế gian”) là một vị Bồ-tát hiện thân cho lòng từ bi của tất cả chư Phật.

Tên nguyên bản tiếng Phạn của vị Bồ-tát này là Avalokiteśvara. Tên tiếng Hán Quán Thế Âm Bồ-tát (觀世音菩薩) được phiên dịch từ tên tiếng Phạn này, “Avalokiteśvara Bodhisattva”. Bồ-tát này thường được mô tả dưới nhiều dạng thân nam hay nữ.

 ở Nhật Bản, ngài được gọi là Kanzeon hay Kannon. Câu niệm Namo Avalokiteshvara Bodhisattva (Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát) là câu niệm hồng danh của Quán Thế Âm Bồ tát.

  1. Bởi vạn pháp là nhất như, là Pháp thân nên Đức Quan Âm có một khuôn mặt.
  2. Bởi lòng từ bi của Ngài ban trải đến tất cả mọi chúng sinh nên nụ cười Ngài tỏa rạng. Khi quán tưởng đến khuôn mặt Đức Phật Quan Âm, hành giả cần trải nghiệm về những phẩm chất giác ngộ.
  3. Bởi nhìn thấy mọi khổ đau của sáu đạo luân hồi, những phiền não của tất cả chúng sinh cho nên ánh mắt Ngài mở to hướng về tất cả chúng sinh.
  4. Bởi Ngài khẩn cầu mười phương chư Phật thực hành thiện hạnh liên tục cứu vớt, giúp đỡ và thức tỉnh chúng sinh nên tay của Ngài chắp lại trước ngực, trì giữ bảo châu Như ý để mong nguyện năng lực của Ngài cùng mười phương chư Phật sẽ đem lại sự viên mãn tâm nguyện cho tất cả chúng sinh.
  5. Bởi Bồ đề tâm thanh tịnh không mệt mỏi, làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh không dừng nghỉ nên tay phải của Ngài trì giữ chuỗi tràng pha lê hay chúng ta gọi là tràng thạch anh trắng nêu biểu Bồ đề tâm thanh tịnh lợi ích chúng sinh.
  6. Bởi phẩm chất của Đức Quan Âm là lòng từ bi, tình yêu thương thanh tịnh không tỳ vết, không bị những sự chấp trước, ích kỷ hẹp hòi làm nhiễm ô nên tay trái của Ngài cầm hoa sen ngang tai.
  7. Bởi tự tính của chúng sinh và vạn pháp là trí tuệ hợp nhất với tình yêu thương nên Ngài an tọa trong tư thế Kim Cương kiết già.
  8. Bởi Ngài đồng cam cộng khổ ứng thân vào sáu đạo luân hồi, tùy duyên nghiệp chúng sinh mà không mỏi mệt nên vai của Ngài khoác tấm da nai nêu biểu đồng sự, hiện muôn hình tướng lợi ích chúng sinh.
  9. Bởi tình yêu thương, tâm từ bi, trí tuệ toàn tri và năng lực vô biên của Ngài làm lợi ích chúng sinh, vào thế gian tùy duyên nhưng bất biến, vì tất cả những tâm nguyện, hoàn cảnh sống của chúng sinh để ứng thân cứu độ, luôn luôn an trụ trong phẩm chất tâm thanh tịnh giác ngộ nên thiên y của Ngài mềm mại như lụa là. Hai đầu tua lụa luôn hướng thẳng lên trên nêu biểu tùy vào thế gian nhưng Ngài luôn chiến thắng tham sân si, lục dục, thất tình, đem lại cho chúng sinh sự an bình mát mẻ.
  10. Bởi Đức Phật Di Đà – Thượng sư của Ngài là Pháp thân, là đối tượng của tâm chí thành, còn Đức Quan Âm là tình yêu thương hiển hiện trong hành động độ sinh cho nên Đức Phật Di Đà an trụ trên đỉnh đầu Ngài để nêu biểu sự hợp nhất chưa từng phân cách giữa tình yêu thương và trí tuệ giác ngộ.
  11. Bởi đã thành tựu viên mãn tất cả các công hạnh Ba la mật nên Ngài trang hoàng bằng các bảo báu. Bởi Ngài đã thành tựu Ngũ Trí Phật, là những trí tuệ vốn sẵn có nơi mình và tất cả chúng sinh, nên đầu Ngài đội Bảo quan Ngũ Phật, cùng trang hoàng sắc tướng Đức Di Đà trên đỉnh đầu. Bởi Ngài thấu hiểu được chân lý tương đối và tuyệt đối bất khả phân, tùy duyên lợi ích chúng sinh, tùy duyên trải lòng yêu thương và trí tuệ đến mọi ngóc ngách của cuộc sống cho nên Ngài đeo khuyên tai phải và trái.
  12. Bởi đã thành tựu ba thân Phật (Pháp thân, Báo thân và Hóa thân) nên cổ Ngài trang hoàng bằng ba chuỗi tràng.
  13. Bởi tất cả những phẩm chất giác ngộ thể hiện bằng những công hạnh từ bi hỷ xả, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định, trí tuệ đã viên mãn thành tựu, nên tay và chân của Ngài được trang hoàng bằng các bảo báu.

Lúc này, khi quán tưởng toàn bộ sắc thân Ngài cùng những trang hoàng bảo báu, hành giả quán tưởng muôn vàn tia sáng thanh tịnh tỏa rạng chiếu soi khắp vũ trụ, ban gia trì cho hành giả và tất cả chúng sinh. Đồng thời lúc này chúng ta và chúng sinh cùng khẩn cầu Đức Phật Đại bi, nêu biểu cho tinh túy của Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), Tam Căn bản (Thượng sư, Bản tôn, Không hành Hộ pháp), tinh túy của tất cả mười phương ba đời chư Phật, để cầu nguyện được ban gia trì.

  1. Bởi muốn tịnh hóa tất cả những thân nghiệp nhiễm ô, giúp chúng ta thành tựu được thân giác ngộ nên nơi luân xa trán của Ngài có chữ chủng tử OM (ༀ) sắc trắng tỏa sáng.
  2. Bởi muốn tịnh hóa được tất cả khẩu nghiệp của chúng sinh và sinh lực nghiệp đã tạo nên sự đau khổ của đời sống này nên luân xa cổ họng của Ngài có chữ chủng tử AH (ཨཱཿ) sắc đỏ tỏa sáng.
  3. Bởi muốn ban trải tình yêu thương, lòng từ bi, trí tuệ cùng tất cả phẩm chất Bồ đề tâm giúp tịnh hóa tất cả phiền não, tâm nhiễm ô của chúng ta, đem lại hạnh phúc chân thực cho cuộc sống nên luân xa tim của Ngài có chữ chủng tử HUNG (ཧཱུྃ) sắc xanh dương

Toàn bộ thân khẩu ý của chúng sinh lúc này là Thân Khẩu Ý giác ngộ của Đức Quan Âm.

ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT – Avalokiteshvara – Bốn tay nêu biểu cho Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả).

Ngài là Đức Phật có lòng từ bi vô lượng, là hiện thân chứng ngộ Tứ vô lượng tâm hay các phương tiện thiện xảo để Ngài cứu độ chúng sinh.
Tay phải thứ hai cầm tràng pha lê nêu biểu sự liên tục cứu giúp chúng sinh mà không bỏ sót một ai, chuỗi tràng cũng nêu biểu chân ngôn của Ngài.

ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT – Avalokiteshvara- tay trái thứ hai cầm hoa sen

Trong khi tay trái thứ hai cầm hoa sen nêu biểu Bồ đề tâm thanh tịnh: dù ứng hiện thân vào các cõi luân hồi nhiễm ô để cứu giúp chúng sinh, Ngài vẫn thanh tịnh vô nhiễm như hoa sen mọc trong bùn nhưng không vấy bùn
Ngài là Đức Phật có lòng từ bi vô lượng, là hiện thân chứng ngộ Tứ vô lượng tâm hay các phương tiện thiện xảo để Ngài cứu độ chúng sinh.
Tay phải thứ hai cầm tràng pha lê nêu biểu sự liên tục cứu giúp chúng sinh mà không bỏ sót một ai, chuỗi tràng cũng nêu biểu chân ngôn của Ngài.

Quán Thế Âm có nghĩa là quán chiếu, suy xét, lắng nghe âm thanh của thế gian. Theo Phẩm Phổ môn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, sở dĩ ngài mang tên gọi như vậy là do hạnh nguyện từ bi cứu khổ nạn, mỗi khi chúng sanh bị khổ ách, nguy cấp liền nhất tâm niệm danh hiệu của bồ tát, ngài liền quán xét âm thanh đó, lập tức cứu họ thoát khỏi tai ách. Trong Bát Nhã Tâm Kinh, vị Bồ-tát này mang tên là Quán Tự Tại dựa trên pháp môn tu tập của ngài. Khi quán chiếu thâm sâu vào chính mình, ngài nhận thấy năm uẩn không có tự tính và đều là giả tạm, ngộ ra được điều đó, ngài vượt thoát tất cả mọi khổ đau ách nạn.

Thần chú ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT -Avalokiteshvara OM MA NI PAD ME HUNG

Trong Kinh Đại bi Tâm Đà La Ni, đức Phật Thích Ca dạy ngài A-nan rằng trong vô lượng kiếp về trước, Quán Thế Âm Bồ-tát đã thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, vì nguyện lực đại bi, vì muốn làm duyên phát khởi cho tất cả các hàng Bồ-tát, vì muốn an vui thành thục cho chúng sanh, ngài mới hiện thân làm Bồ Tát, danh hiệu là Quán Thế Âm, thường trụ thế giới Ta-bà, đồng thời cũng là thị giả trợ tuyên chánh pháp cho Đức Phật A Di Đà ở Tây phương Cực Lạc.

Trong Kinh Đại Bi Liên Hoa (Kinh Bi Hoa), Bồ-tát Quán Thế Âm là quyến thuộc bồ đề của vô lượng bồ-tát khác và Phật A Di Đà, trước khi phát nguyện lớn, ngài là Thái tử Bất Huyền, con trưởng trong một nghìn người con của Chuyển luân vương Vô Tránh Niệm, người sau này là Phật A Di Đà. Bồ tát Quán Thế Âm được Đức Phật Bảo Tạng thọ ký rằng, Đức Phật A Di Đà dù có thọ mạng vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp cũng sẽ nhập niết bàn, khi đó Quán Thế Âm Bồ Tát tiếp quản chánh pháp và cõi Cực Lạc, thành Phật hiệu là Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Trong Kinh Bát Nhã Ba-La-Mật, Quán Thế Âm Bồ Tát được gọi là Quán Tự Tại Bồ Tát, ẩn tàng một triết lý sâu xa và phương thức tu tập nhiệm mầu nhờ quán chiếu mà được tự tại, giải thoát. Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đức Phật đã giải thích rõ cho Vô Tận Ý Bồ Tát về ý nghĩa của danh hiệu Quán Thế Âm là do vị Bồ tát này khi nghe âm thanh của chúng sanh xưng danh hiệu mình thì tức thời tầm thanh để cứu khổ. Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh bị các khổ não nghe đến danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, một lòng xưng danh Ngài thì ngay khi đó, Bồ Tát Quán Thế Âm tức thì quán sát âm thanh ấy, khiến cho họ đều được giải thoát.[

Cũng theo kinh này thì Quán Thế Âm Bồ tát có 32 ứng hóa hiện thân[3] là thân Phật, Bích Chi (Duyên Giác), Thanh Văn, Phạm Vương, Đế Thích, Đại Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại, Thiên Đại tướng Quân, Tỳ Sa Môn, Tiểu Vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la–môn, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Phụ nữ, Đồng nam, Đồng nữ, Thiên [4], Long[5], Dạ xoa[6], Càn-thát-bà[7], Ca-lâu-la[8], A-tu-la[9], Khẩn-na-la[10], Ma-hầu-la-già[11], Nhân, Phi nhân[12], Thần chấp Kim Cang.[13]

Quán Thế Âm Bồ Tát là bồ tát trợ tuyên đắc lực của Phật A Di Đà ở Tây Phương Cực Lạc, Quán Thế Âm Bồ Tát thể hiện lòng Bi (pi. karuṇā), một trong hai dạng của Phật tính. Vì vậy, danh hiệu của ngài thường kèm theo từ Đại Bi (mahākāruṇika). Dạng kia của Phật tính là Trí tuệ (Bát-nhã, prajñā), là đặc tính được Bồ Tát Đại Thế Chí thể hiện, bên tay phải của Phật A Di Đà. Với lòng từ bi vô lượng, Quán Thế Âm thể hiện sức mạnh huyền diệu cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến mình lúc gặp hiểm nguy. Trong nhân gian, Quán Thế Âm là vị bảo hộ tránh khỏi tai hoạ và hay được phụ nữ không con cầu tự.

Trong các loại tranh tượng về Quán Thế Âm, người ta thấy có 33 dạng, khác nhau về số đầu, tay và các đặc tính. Thông thường ta thấy tượng Bồ Tát có ngàn tay ngàn mắt, có khi 11 đầu. Trên đầu có khi có tượng A-di-đà, xem như đặc điểm chính. Trên tay có khi thấy Bồ Tát cầm hoa sen hồng, vì vậy nên Quán Thế Âm cũng có tên là Liên Hoa Thủ (người cầm hoa sen, padmapāṇi) hay nhành dương liễu và một bình nước Cam-lộ (amṛta). Số tay của Bồ Tát biểu hiện khả năng cứu độ chúng sinh trong mọi tình huống. Trong tranh tượng với 11 đầu thì Quán Thế Âm mang 9 đầu của chín vị Bồ Tát, một đầu của một vị Phật và cuối cùng là đầu của Phật A-di-đà. Cứ mỗi ba đầu tượng trưng là ba đặc tính: từ bi với chúng sinh khổ nạn, quyết tâm đối trị cái xấu, hoan hỉ với cái tốt. Theo một cách nhìn khác thì 11 đầu biểu tượng cho mười cấp của Thập địa và Phật quả.

Đức Quán Thế Âm là vị Bồ Tát quan trọng nhất trong các vị Bồ Tát.

Ngự trên một mặt trăng và mặt trời, Đức Quán Thế Âm là vị Bồ Tát quan trọng nhất trong các vị Bồ Tát.

Ở giữa trái tim mình, vị Bồ Tát vĩ đại này cầm một cách trìu mến viên ngọc Như ý, biểu hiện Trí tuệ siêu việt rằng sự tử tế sẽ mang lại sự tử tế và hãy hiểu rằng làm hại người khác nghĩa là làm hại chính mình.

Tất cả mọi thứ xảy ra trong đời con, dù là trực tiếp hay gián tiếp, đều là kết quả của chính những điều con mong muốn. Vì vậy hãy mong muốn ích lợi cho mọi người.

Hãy đánh thức con người từ bi bên trong con. Hãy sống giống như là vị Bồ Tát của lòng từ bi và hãy chuyển hóa thế giới mà con đang sống thành thế giới đầy lòng từ bi.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here